Lời từ giã của Đa-vít
1Sau đây là những lời từ giã của Đa-vít.
2
3
4
5
6
7
Ba chiến sĩ anh dũng
8Sau đây là tên của những chiến sĩ của Đa-vít:
Giô-sép Bát-sê-bết, người Ta-kê-mô-nít
9Kế đến là Ê-lê-a-xa, con Đô-đai
10Nhưng Ê-lê-a-xa ở lại chiến đấu chống dân Phi-li-tin cho đến khi tay rã rời dính chặt vào gươm. Trong ngày đó CHÚA ban chiến thắng lớn cho dân Ít-ra-en. Quân sĩ quay lại sau khi Ê-lê-a-xa đã thắng để cướp lấy vũ khí và áo giáp quân thù.
11Kế đến là Sam-ma, con A-ghi, người Ha-ra-rít. Quân Phi-li-tin đến đánh nhau trong vườn rau
12Nhưng Sam-ma đứng giữa ruộng đánh nhau dành miếng ruộng đó và giết người Phi-li-tin. CHÚA ban đắc thắng lớn.
13Có lần, ba trong số ba mươi chiến sĩ cận vệ
14Lúc đó Đa-vít đang ở trong mật khu, và một số người Phi-li-tin đang ở Bết-lê-hem.
15Đa-vít rất muốn uống nước. Ông nói, “Ôi, ước gì có ai lấy nước cho ta nơi giếng gần cổng thành Bết-lê-hem!”
16Vậy ba chiến sĩ
17và nói rằng, “Nguyện CHÚA chớ để tôi uống nước nầy! Như thế chẳng khác nào uống máu của những người vì đi lấy nước mà liều chết!” Đa-vít không chịu uống nước đó. Đó là những hành vi dũng cảm mà ba chiến sĩ đó làm.
Các chiến sĩ anh dũng khác
18A-bi-sai, em Giô-áp, con Xê-ru-gia chỉ huy đám cận vệ. A-bi-sai dùng giáo đánh giết ba trăm lính. Ông nổi danh như ba người kia
19nhưng được tôn trọng hơn họ. Ông làm chỉ huy họ nhưng không thuộc trong đám họ.
20Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa từ Cáp-xi-ên là một chiến sĩ gan dạ
21Bê-na-gia cũng giết một người Ai-cập đang cầm cây giáo trong tay. Bê-na-gia chỉ có một cây dùi cui nhưng ông giựt cây giáo khỏi tay người Ai-cập và giết hắn bằng chính cây giáo của hắn.
22Đó là những điều Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa làm. Ông cũng nổi danh như ba người kia.
23Ông nhận nhiều vinh dự hơn ba mươi người kia nhưng ông không thuộc vào nhóm Ba Người thân cận. Đa-vít cử ông làm chỉ huy toán hộ vệ mình.
Ba mươi chiến sĩ dũng cảm
24Các người sau đây thuộc vào nhóm Ba Mươi người: A-sa-ên, em Giô-áp; Ên-ha-nan, con Đô-đô ở Bết-lê-hem;
25Sam-ma người Ha-rô-đít; Ê-li-ca người Ha-rô-đít;
26Hê-lê người Ban-thít; Y-ra, con Ích-kê miền Tê-cô-a;
27A-bi-ê-xe người A-na-thốt; Mê-bun-nai người Hu-sa-thít;
28Xanh-môn, người A-lô-hít; Ma-ha-rai người Nê-tô-pha-thít;
29Hê-lết con Ba-a-na, người Nê-tô-pha-thít; Y-tai con Ri-bai miền Ghi-bê-a thuộc xứ Bên-gia-min;
30Bê-na-gia người Bi-ra-thô-nít; Hích-đai từ vùng hố của Ga-ách;
31A-bi Anh-bôn người Ác-ba-thít; Ách-ma-vết người Ba-hu-mít;
32Ê-li-a-ba người Sanh-bô-nít; các con trai của Gia-sen; Giô-na-than
33con trai của Sam-ma người Ha-ra-rít; A-hi-am con Sa-ra người Ha-ra-rít;
34Ê-li-phê-lết con A-hát-bai, người Ma-a-ca-thít; Ê-li-am con A-hi-tô-phên, người Ghi-lôn;
35Hết-rô người Cạt-mên; Ba-a-rai người Ạc-bít;
36Y-ganh con Na-than ở Xô-ba; con của Hát-ri;
37Xê-léc người Am-môn; Na-ha-rai người Bê-e-rô-thít, vác áo giáp cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia;
38Y-ra người Ít-rít; Ga-rép người Ít-rít,
39và U-ri người Hê-tít. Tất cả là ba mươi bảy người.